Đăng bởi Linh Audit lúc Thứ Ba, 31 tháng 12, 2019 ,

Với trên 18 năm kinh nghiệm và nhiều Thẩm định viên có kinh nghiệm trong công tác thẩm định giá, Chúng tôi hiện đang là đối tác quan trọng và uy tín, nằm trong Short List của nhiều Ngân hàng lớn như Vietcombank, BIDV, VietinBank,...  và các Doanh nghiệp, Các cá nhân có nhu cầu sử dụng Dịch vụ Thẩm định giá  Dự án Đầu tư.

Trong những năm trở lại đây, khi nền kinh tế đang trên đà phát triển, rất nhiều các dự án đầu tư quy mô vốn lớn, tính chất kỹ thuật phức tạp, tác động và ảnh hưởng xã hội của dự án diễn ra sâu rộng thì hoạt động thẩm định dự án là hoạt động cần thiết được đặt ra. Thẩm định dự án đầu tư sẽ giúp nâng cao hiệu quả đầu tư của các dự án. Chính vì vậy, hiểu được vị trí, vai trò của hoạt động thẩm định dự án trong công tác chuẩn bị đầu tư, nắm được các quy định hiện hành liên quan đến thẩm quyền thẩm định và quyết định đầu tư đối với dự án là rất quan trọng.


Một số nội dung chính sau:

- Dự án đầu tư;

- Tổng quan về thẩm định dự án;
- Thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư;
- Thẩm quyền thẩm định dự án;
- Thẩm quyền thẩm định thiết kế cơ sở của dự án;
- Chi phí thẩm định dự án.
Dịch vụ Thẩm định giá Dự án Đầu tư
Dịch vụ Thẩm định giá Dự án Đầu tư

THẨM ĐỊNH GIÁ DỰ ÁN ĐẦU TƯ

***

1. Khái niệm:

1.1 Khái niệm Dự án đầu tư có thể được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau: 


Theo Luật đầu tư năm 2014: 
Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định. 
Về mặt hình thức: dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch chặt chẽ nhằm đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai. 
Xét trên góc độ quản lý: dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế xã hội trong một thời gian dài. 
Xét về mặt nội dung: dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động và chi phí cần thiết, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm xác định để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu trong tương lai.

1.2. Thẩm định dự án đầu tư 


1.2.1. Khái niệm và sự cần thiết của thẩm định dự án 


Thẩm định dự án đầu tư là việc tổ chức xem xét đánh giá một cách khách quan, khoa học và toàn diện các nội dung cơ bản có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thực hiện và hiệu quả của dự án để từ đó ra quyết định đầu tư, cho phép đầu tư hoặc tài trợ vốn cho dự án. 

Sự cần thiết của thẩm định dự án đầu tư 

Dự án đầu tư cần phải được thẩm định đề cập đến ở đây chính là các dự án đầu tư phát triển. Hoạt động đầu tư phát triển lại có một vai trò quan trọng đối với sự phát triển của một quốc gia, là một lĩnh vực hoạt động nhằm tạo ra và duy trì sự hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế. Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ, hoạt động đầu tư là một bộ phận trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tăng thêm cơ sở vật chất kỹ thuật mới, duy trì sự hoạt động của cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có và là điều kiện để phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ của các doanh nghiệp. 

- Dự án đầu tư phát triển cần thiết phải thẩm định trước khi tiến hành đầu tư bởi những lý do sau:
+ Thứ nhất, dự án đầu tư phát triển có những đặc điểm rất khác biệt so với các dự án đầu tư khác như:
Dự án đầu tư phát triển thường đòi hỏi một lượng vốn đầu tư rất lớn và số vốn đó sẽ nhằm ứ động trong suốt quá trình đầu tư. Việc quyết định đầu tư sai lầm vào dự án có thể làm lãng phí, thất thoát một lượng vốn đầu tư rất lớn. Đồng thời, việc quyết định đầu tư sai lầm vào một dự án cũng có thể làm mất rất nhiều cơ hội đầu tư vào các dự án khác có khả năng sinh lời tốt hơn. Chính vì vậy, trước khi quyết định đầu tư vào một dự án, cần phải cân nhắc rất kỹ càng. Việc cân nhắc kỹ càng chính là việc cần phải thẩm định dự án trước khi tiến hành đầu tư. 
- Thời gian để triển khai thực hiện một dự án đầu tư phát triển thường rất dài. Do vậy, dự án đầu tư thường gặp rất nhiều rủi ro. Để hạn chế rủi ro và nâng cao hiệu quả đầu tư vào dự án cần phải xem xét, cân nhắc và lường trước các rủi ro khi đầu tư vào dự án. Việc cân nhắc, xem xét trước khi tiến hành đầu tư chính là việc cần phải thẩm định dự án trước khi tiến hành.
- Kết quả và hiệu quả của dự án đầu tư sẽ chịu ảnh hưởng của nhiều các yếu tố không ổn định của tự nhiên, kinh tế xã hội. Trong các yếu tố đó, có những yếu tố tác động đến dự án là yếu tố thuận lợi, có những yếu tố tác động đến dự án là bất lợi. Để tận dụng tốt các yếu tố thuận lợi nhằm tạo cơ hội cho dự án và hạn chế yếu tố bất lợi nhằm giảm thiểu rủi ro đối với dự án trước khi tiến hành, cần thiết phải cân nhắc rất thận trọng trước khi triển khai dự án hay chính phải thẩm định dự án trước khi tiến hành.
- Thành quả của các dự án đầu tư phát triển có gắn với hoạt động xây dựng sẽ hoạt động ở ngay nơi được tạo dựng và khai thác. Việc lựa chọn sai lầm địa điểm đối với những dự án này sẽ có thể ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của của dự án. Do vậy, phải cân nhắc và thẩm định rất kỹ địa điểm thực hiện dự án trước khi tiến hành. 
- Thành quả của các dự án đầu tư phát triển sẽ để lại những giá trị sử dụng lâu dài nhưng cũng có thể để lại những hậu quả nặng nề nếu ra quyết định đầu tư sai lầm. Chính vì vậy, cần thiết phải thận trọng trước khi thực hiện các dự án đầu tư phát triển để tránh những tác hại nặng nề có thể xảy ra đối với nền kinh tế và nhà đầu tư. Việc thận trọng trước khi tiến hành đầu tư chính là dự án sau khi được lập cần phải được thẩm định khách quan để đánh giá lại một lần nữa hiệu quả dự án trước khi đầu tư.
- Thứ hai, khắc phục tính chủ quan của công tác lập dự án. Cụ thể: + Dự án được lập có thể mang quan điểm chủ quan của nhà đầu tư: nhà đầu tư dự án có thể sẽ cố gắng lập ra những dự án mà bề ngoài có tính khả thi cao để thuyết phục các cơ quan có thẩm quyền cấp phép đầu tư cho dự án hoặc thuyết phục ngân hàng phê duyệt vốn vay cho dự án. Vì vậy, việc kiểm tra nhằm xác định lại sự cần thiết phải đầu tư vào dự án cũng như tính khả thi của dự án là cần thiết để đảm bảo lợi ích cho nền kinh tế cũng như cho các bên có liên quan đến dự án.
+ Dự án được lập có thể có những sai sót xảy ra. Vì vậy, việc kiểm tra nhằm phát hiện những sai sót xảy ra trong quá trình lập dự án là cần thiết để đảm bảo tính chính xác của dự án. 

1.2.2. Mục đích, vai trò và yêu cầu của thẩm định dự án đầu tư 

1.2.2.1. Mục đích Việc thẩm định dự án nhằm bác bỏ các dự án tồi và lựa chọn những dự án có tính khả thi cao thông qua việc:

- Đánh giá tính hợp lý, hợp pháp, hợp lệ của dự án.
+ Đánh giá hiệu quả của dự án trên cả 2 góc độ: hiệu quả về tài chính và hiệu quả kinh tế xã hội của dự án.
+ Đánh giá khả năng triển khai thực hiện dự án.

1.2.2.2. Vai trò của thẩm định dự án đầu tư

- Đối với Nhà nước Với chức năng là cơ quan quản lý, điều phối và giám sát các hoạt động đầu tư trong nền kinh tế thì việc thẩm định dự án có một vai trò rất quan trọng đối với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Cụ thể vai trò của thẩm định dự án đầu tư đối với Nhà nước như sau:
+ Giúp cho Nhà nước kiểm tra, kiểm soát sự tuân thủ theo pháp luật của dự án.
+ Giúp Nhà nước đánh giá được tính hợp lý, khả thi và hiệu quả của dự án trên góc độ toàn bộ nền kinh tế – xã hội.
+ Giúp Nhà nước xác định được rõ những mặt lợi, mặt hại của dự án để có biện pháp khai thác, khống chế, đảm bảo lợi ích quốc gia, pháp luật và quy ước quốc tế. Tất cả những vai trò trên của việc thẩm định dự án đối với Nhà nước sẽ giúp cho cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước đưa ra quyết định cuối cùng về việc ra quyết định đầu tư vào dự án, chấp thuận sử dụng vốn đầu tư của nhà nước đối với dự án hoặc cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho dự án. 

- Đối với các tổ chức tài chính 

Các tổ chức tài chính bao gồm: ngân hàng, các quỹ đầu tư, các quỹ tài chính của các tổ chức quốc tế… với chức năng là những tổ chức có thể cung cấp và hỗ trợ vốn đầu tư cho dự án. Việc cung cấp và hỗ trợ vốn này có thể vì mục tiêu phát triển xã hội nhưng cũng có khi đơn thuần vì mục tiêu kinh tế. Việc cung cấp và hỗ trợ vốn đầu tư cho dự án của các tổ chức tài chính này cũng là chính là đầu tư để sinh lời. 

Do vậy, việc thẩm định dự án trước khi cung cấp vốn cho dự án là rất quan trọng, bởi lẽ:

+Thẩm định dự án là cơ sở để các tổ chức tài chính xác định số tiền vay, thời gian cho vay và mức thu nợ hợp lý. o Thẩm định dự án giúp cho các tổ chức tài chính đạt được các chỉ tiêu về an toàn và hiệu quả trong sử dụng vốn, giảm thiểu nợ quá hạn, nợ khó đòi và hạn chế những rủi ro có thể xảy ra. Tất cả những vai trò trên của việc thẩm định dự án đối với các tổ chức tài chính sẽ giúp cho các tổ chức tài chính đưa ra quyết định tài trợ hoặc cho dự án vay vốn. 

+ Đối với chủ đầu tư Chủ đầu tư của dự án thông thường là người bỏ vốn, quản lý và hưởng lợi từ hoạt động đầu tư của dự án nên việc lựa chọn một dự án đầu tư tốt và có tính khả thi sẽ giúp cho chủ đầu tư tránh được sự lãng phí trong đầu tư và tối đa hóa được lợi ích mang lại từ hoạt động đầu tư của dự án. Vì vậy, việc thẩm định dự án sẽ giúp cho chủ đầu tư xem xét, cân nhắc lại các thông tin trong dự án nhằm loại bỏ những sai sót có thể xảy ra và lựa chọn những dự án có tính khả thi cao nhằm đưa ra quyết định đầu tư chính xác.

1.2.2.3. Yêu cầu của thẩm định dự án đầu tư

- Yêu cầu chung đối với hoạt động thẩm định o Đảm bảo tính khách quan:

+ Hoạt động thẩm định dự án cần phải được thực hiện độc lập và tách rời với hoạt động lập dự án đầu tư. Người thẩm định dự án không được đồng thời là người lập dự án.
+ Người thẩm định dự án được độc lập trong quá trình đánh giá dự án, không bị chi phối hay ràng buộc bởi cơ quan quản lý cấp trên và các mối quan hệ cá nhân.
Đảm bảo tính khoa học: việc thẩm định dự án phải dựa trên các căn cứ pháp lý, các tiêu chuẩn, định mức kinh tế – kỹ thuật rõ ràng; các số liệu tính toán và dự báo chính xác, khoa học, cụ thể làm căn cứ cho quá trình thẩm định.
Đảm bảo tính toàn diện: việc thẩm định dự án phải được thực hiện ở tất cả các nội dung của dự án và thẩm định trên nhiều quan điểm.
Đảm bảo tính kịp thời: việc thẩm dự án phải đảm bảo thời gian thẩm định theo đúng quy định. Thời gian thẩm định dự án có thể là thời gian theo quy định của pháp luật hoặc thời gian theo quy định do đơn vị thẩm định đặt ra. 
Đảm bảo tính pháp lý: Người ra quyết định đầu tư sẽ chịu trách nhiệm lựa chọn hình thức tổ chức thẩm định dự án và chỉ khi có kết quả thẩm định mới được ra quyết định đầu tư.
- Yêu cầu đối với cán bộ thẩm định
+ Nắm vững chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia, của ngành đầu tư, của địa phương, các quy chế, luật pháp về quản lý kinh tế, quản lý đầu tư và xây dựng hiện hành của Nhà nước.
+ Am hiểu về ngành và lĩnh vực đầu tư của dự án.
+ Nắm được tình hình sản xuất – kinh doanh, các quan hệ tài chính – kinh tế tín dụng của chủ đầu tư với ngân hàng và ngân sách Nhà nước.
+ Biết thu thập và xử lý thông tin thông qua việc khai thác số liệu trên thị trường; trong các báo cáo tài chính của chủ đầu tư, số liệu của các dự án tương tự và thường xuyên thu thập, đúc kết xây dựng các tiêu chuẩn, các chỉ tiêu định mức kinh tế kỹ thuật làm cơ sở khoa học phục vụ cho công tác thẩm định.
+ Biết phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên môn, các chuyên gia trong và ngoài ngành có liên quan đến dự án trong quá trình thẩm định. o Phải biết sắp xếp, tổ chức công việc, có trách nhiệm đối với công việc và đặc biệt là phải có đạo đức nghề nghiệp.

 1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động thẩm định dự án đầu tư

- Nhóm nhân tố chủ quan:

+ Cán bộ thẩm định: hoạt động thẩm định dự án là hoạt động chủ yếu được thực hiện bởi con người. Cán bộ thẩm định sẽ là người kiểm tra, đánh giá dự án. Vì vậy, chất lượng của hoạt động thẩm định phụ thuộc rất nhiều vào cán bộ thẩm định.
+ Thông tin thẩm định: tất cả các căn cứ để đưa ra các đánh giá và kết luận của dự án đều phụ thuộc rất nhiều vào nguồn thông tin thu thập được trong quá trình thẩm định. Vì vậy, nguồn thông tin phục vụ cho quá trình thẩm định không đầy đủ, thiếu chính xác sẽ dẫn đến các kết luận thẩm định không xác đáng.
+ Công tác tổ chức thẩm định dự án: công tác tổ chức thẩm định dự án là nội dung công việc liên quan đến việc sắp xếp quy trình thẩm định và bố trí nhân sự cho công tác thẩm định. Vì vậy, nếu như quy trình thẩm định phức tạp, chồng chéo; việc bố trí nhân sự thẩm định không phù hợp với trình độ chuyên môn sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chi phí, thời gian cũng như chất lượng của dự án được thẩm định.
+ Trang thiết bị hỗ trợ cho công tác thẩm định: việc thẩm định dự án đòi hỏi cần phải có nguồn thông tin lớn và phải được thực hiện nhanh chóng, kịp thời. Vì vậy, các thiết bị hỗ trợ cho việc lưu trữ thông tin và những phần mềm ứng dụng cho công tác thẩm định là rất cần thiết để đảm bảo việc thẩm định được thực hiện chính xác và nhanh chóng. 
+ Thời gian thẩm định: thẩm định dự án là một quá trình xem xét, đánh giá cẩn trọng tất cả các nội dung cũng như các vấn đề có liên quan đến dự án. Thêm vào đó, mỗi dự án lại có tính chất kỹ thuật và tính đặc thù khác nhau, mỗi dự án lại liên quan đến các lĩnh vực và chuyên môn khác nhau. Chính vì vậy, việc thẩm định dự án thường tốn nhiều thời gian, công sức. Nếu thời gian quy định cho việc thẩm định quá ít sẽ không đủ để đánh giá đầy đủ, chính xác dự án.

- Nhóm nhân tố khách quan: 

+ Thông tin cung cấp từ chủ đầu tư: một trong những căn cứ quan trọng để thẩm định dự án là bản dự án đầu tư cũng như những hồ sơ pháp lý, tài chính có liên quan đến chủ đầu tư và dự án. Tất cả những tài liệu trên hầu hết đều do chủ đầu tư cung cấp. Nếu như chủ đầu tư không trung thực, cung cấp tài liệu không chính xác và đầy đủ thì quá trình thẩm định sẽ gặp rất nhiều khó khăn và các đánh giá thẩm định cũng sẽ không chính xác.
+ Sự thay đổi của môi trường kinh tế xã hội: dự án đầu tư là phương án đầu tư được thiết lập cho tương lai. Các số liệu trong dự án thường là các con số dự báo, giả định. Ví dụ: giá bán sản phẩm dự kiến; ước tính giá nguyên vật liệu đầu vào; ước tính mức công suất hàng năm của dự án… Chính vì vậy, sự thay đổi của môi trường kinh tế, xã hội không lường trước được như suy thoái kinh tế, lạm phát, bất ổn chính trị… dẫn đến thực tế khi dự án đi vào hoạt động có thể khác xa so với con số dự báo được tính trong quá trình lập dự án. Đây là một trong những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến các giả định được thiết lập sẵn trong dự án và ảnh hưởng đến hiệu quả của dự án.
+ Sự thay đổi của cơ chế chính sách, pháp luật của nhà nước: tất cả các dự án đầu tư khi đi vào triển khai thực hiện và vận hành đều phải tuân thủ các chính sách và quy định pháp luật của Nhà nước. Vì vậy, khi chính sách và các quy định pháp luật của Nhà nước thay đổi dẫn đến căn cứ triển khai thực hiện và hiệu quả thực tế của dự án cũng sẽ thay đổi. 

1.2.4. Căn cứ thẩm định dự án đầu tư 

1.2.4.1. Hồ sơ dự án Hồ sơ dự án là tài liệu không thể thiếu để thực hiện hoạt động thẩm định dự án. Hồ sơ dự án làm căn cứ thẩm định dự án bao gồm:

+ Dự án đầu tư (gồm thuyết minh dự án và thuyết minh thiết kế cơ sở) hoặc báo cáo nghiên cứu khả thi dự án.
+ Hồ sơ về chủ đầu tư (gồm hồ sơ pháp lý và hồ sơ tài chính). Hồ sơ pháp lý là các tài liệu pháp lý để chứng minh tư cách pháp lý của chủ đầu tư khi tham gia đầu tư vào dự án. Hồ sơ tài chính là các tài liệu để chứng minh năng lực tài chính và khả năng cân đối vốn đầu tư cho dự án của chủ đầu tư.
+ Khả năng huy động vốn và cân đối nguồn vốn đầu tư công và các nguồn vốn khác để thực hiện dự án (đối với các dự án đầu tư công). 

1.2.4.2. Căn cứ pháp lý

-Chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, của địa phương thực hiện dự án.
- Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, của địa phương và quy hoạch phát triển ngành đầu tư của dự án.
- Chủ trương đầu tư đã được cấp có thẩm quyền quyết định (đối với các dự án phải xin chủ trương đầu tư).
- Hệ thống các văn bản pháp lý có liên quan đến hoạt động đầu tư của dự án (bao gồm các văn bản pháp lý chung và văn bản pháp lý điều chỉnh trực tiếp dự án).
- Các tiêu chuẩn, quy phạm và các định mức trong từng lĩnh vực kinh tế kỹ thuật:
+ Các quy phạm: quy phạm sử dụng đất khu đô thị, khu công nghiệp, quy phạm về tĩnh không trong cầu cống, hàng không…
+ Các tiêu chuẩn: tiêu chuẩn cấp công trình tiêu chuẩn thiết kế, tiêu chuẩn môi trường, tiêu chuẩn công nghệ, kỹ thuật riêng của từng ngành…
- Các quy ước và các thông lệ quốc tế đã được ký kết giữa các tổ chức quốc tế hay nhà nước với nhà nước (về hàng hải, hàng không, đường sông…). Quy định của các tổ chức tài trợ vốn (WB, IMF, ADB…), quy định về thương mại, tín dụng, bảo lãnh, bảo hiểm… 

1.2.4.3. Căn cứ vào thông tin điều tra thực tế và kinh nghiệm thực tiễn 


Tất cả các số liệu trong dự án cần phải được kiểm tra tính xác thực. Vì vậy, thông tin điều tra thực tế cùng với kinh nghiệm thực tiễn là một nguồn dữ liệu quan trọng để kiểm tra tính chính xác của các dữ liệu được phản ánh trong dự án.

 1.3. Thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư


 Một số dự án đầu tư, đặc biệt là các dự án đầu tư công, trước khi được cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thẩm định để ra quyết định đầu tư hoặc cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cần phải được phê duyệt chủ trương đầu tư. Do vậy mà trước khi xem xét thẩm quyền thẩm định dự án đầu tư cần phải xem xét thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư đối với một số dự án.

1.3.1. Đối với các dự án đầu tư công

- Dự án đầu tư công là những dự án sử dụng toàn bộ hoặc một phần nguồn vốn đầu tư công để thực hiện dự án. Đối với loại hình dự án này thì hầu hết đều cần được phê duyệt chủ trương đầu tư trước khi trình cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thẩm định. 

1.3.2. Đối với các dự án đầu tư khác


Đối với các dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn khác thì một số loại hình dự án phải thông qua chủ trương đầu tư trước khi trình cơ quan có thẩm quyền thẩm định và cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư đối với các dự án đầu tư này được thực hiện theo quy định của Luật đầu tư năm 2014. 

1.4. Thẩm quyền thẩm định dự án


1.4.1. Thẩm quyền thẩm định dự án đầu tư công

Các dự án đầu tư công là những dự án mà thông thường vốn đầu tư cần huy động cho việc thực hiện dự án là rất lớn. Đối với loại hình dự án này, việc bố trí và cân đối đủ vốn thực hiện dự án là rất quan trọng. Do vậy, đối với nhóm dự án này, việc thẩm định được tiến hành với 2 nội dung sau:
(1) Thứ nhất, thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn cho dự án.
(2) Thứ hai, thẩm định dự án đầu tư. Thẩm quyền thẩm định 2 nội dung này được quy định cụ thể như sau:
- Thẩm quyền thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn cho dự án đầu tư công
- Thẩm quyền thẩm định dự án đầu tư công Cùng với việc phân cấp trách nhiệm về thẩm quyền thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn cho dự án thì thẩm quyền thẩm định dự án cũng được phân định rõ ràng. 

1.4.2. Thẩm quyền thẩm định đối với các dự án đầu tư khác


- Đối với các dự án đầu tư khác thuộc diện phải quyết định chủ trương đầu tư trước khi thẩm định để cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư 
- Đối với các dự án không thuộc diện phải xin quyết định chủ trương đầu tư thì cơ quan đăng ký đầu tư là đầu mối thẩm định dự án.
+ Nếu dự án thực hiện trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao, Khu kinh tế thì thẩm quyền thẩm định thuộc về Ban quản lý các Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao, Khu kinh tế.
+ Nếu dự án được thực hiện ngoài Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao, Khu kinh tế; dự án được thực hiện trên nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; dự án được thực hiện ở cả trong và ngoài ngoài Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao, Khu kinh tế thì thẩm quyền thẩm định thuộc về Sở Kế hoạch và đầu tư.

1.5. Thẩm quyền thẩm tra thiết kế cơ sở của các cơ quan quản lý chuyên ngành


-Dự án đầu tư được thực hiện có thể liên quan đến rất nhiều các lĩnh vực chuyên môn khác nhau. Để đảm bảo các giải pháp kỹ thuật của dự án có tính khả thi, mỗi lĩnh vực đầu tư của dự án khi được thẩm định cần phải có sự tham gia của các cơ quan quản lý chuyên ngành. Thẩm quyền tham gia đóng góp ý kiến cho các giải pháp kỹ thuật của dự án được quy định như sau:
- Các Bộ quản lý chuyên ngành sẽ thẩm tra thiết kế cơ sở của các dự án quan trọng quốc gia và dự án nhóm A thuộc các lĩnh vực đầu tư do Bộ mình quản lý. Cụ thể:
+ Bộ công thương: thẩm tra thiết kế cơ sở của các dự án đầu tư vào các lĩnh vực như cơ khí; luyện kim; điện (nhà máy điện, đường dây tải điện, trạm biến áp); năng lượng mới; năng lượng tái tạo; dầu khí; hoá chất (bao gồm cả hoá dược); vật liệu nổ công nghiệp; hầm mỏ; công nghiệp tiêu dùng; công nghiệp thực phẩm; công nghiệp chế biến khác. 
+ Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn: thẩm tra thiết kế cơ sở của các dự án đầu tư vào các lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn như nông nghiệp, lâm nghiệp; diêm nghiệp; thuỷ sản; thuỷ lợi và phát triển nông thôn.
+ Bộ giao thông vận tải: thẩm tra thiết kế cơ sở của các dự án đầu tư vào các lĩnh vực giao thông, vận tải (gồm cả đường bộ, đường thủy nội địa).
+ Bộ xây dựng: thẩm tra thiết kế cơ sở của các dự án đầu tư vào các lĩnh vực công trình dân dụng (nhà ở và công sở), công trình công nghiệp vật liệu xây dựng và công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị (hè, đường đô thị, cấp nước, thoát nước, chiếu sáng, công viên cây xanh, rác thải đô thị, nghĩa trang, bãi đỗ xe trong đô thị).
+ Bộ Quốc phòng, Bộ Công an: thẩm định thiết kế cơ sở đối với các công trình xây dựng thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh.
- Các Sở quản lý chuyên ngành sẽ thẩm tra thiết kế cơ sở của các dự án nhóm B, nhóm C thuộc các lĩnh vực đầu tư do Sở mình quản lý.

Tags: